10 cách phân biệt quảng cáo và PR

Nếu bạn đang tìm việc hoặc cố gắng quảng bá công ty mình thì bạn đang phân vân giữa quảng cáo so với quan hệ công chúng. Hai ngành này rất khác nhau dù chúng thường bị nhầm lẫn là một.

10 đặc điểm sau đây chỉ sơ lược vài điểm khác biệt giữa quảng cáo và quan hệ công chúng, nhưng chúng cung cấp cho bạn nền tảng tốt cho hai lĩnh vực khác biệt này.

  1. Trả tiền và miễn phí

– Quảng cáo: Công ty phải trả tiền cho chuyên mục quảng cáo. Bạn biết chính xác khi nào quảng cáo sẽ lên sóng hoặc được phát hành.

– PR: Việc của bạn là đăng tin miễn phí cho công ty. Từ các buổi họp báo cho đến thông cáo báo chí, bạn đang tập trung vào việc tiếp xúc truyền thông miễn phí cho công ty và các sản phẩm/dịch vụ của công ty.

  1. Giới hạn sự sáng tạo và không giới hạn

– Quảng cáo: vì bạn trả tiền cho chuyên mục quảng cáo cho nên bạn có quyền kiểm soát sự sáng tạo đối với những gì bạn quảng cáo.

– PR: Bạn không thể kiểm soát cách mà phương tiện truyền thông trình bày thông tin nếu họ quyết định sử dụng thông tin của bạn. Họ không bắt buộc phải tham dự sự kiện hoặc đăng bài thông cáo báo chí chỉ vì nhà báo đâu quan tâm bạn đã gửi gì cho họ.

  1. Hạn sử dụng

– Quảng cáo: Vì bạn trả tiền cho quảng cáo nên bạn có thể chạy quảng cáo ngắn hạn hoặc dài hạn miễn là ngân sách bạn cho phép. Quảng cáo thường có “hạn sử dụng” lâu hơn thông cáo báo chí.

– PR: Bạn sẽ gửi thông cáo báo chí về sản phẩm mới một lần, rồi gửi tiếp thông cáo báo chí cho buổi họp báo một lần nữa. Độ bao phủ PR bạn nhận được chỉ được lưu hành một lần. Biên tập viên sẽ không xuất bản ba hay bốn lần cùng một thông cáo báo chí trên tạp chí của họ.

  1. Người tiêu dùng khôn ngoan

– Quảng cáo: Người tiêu dùng biết rằng khi họ đang xem quảng cáo thì họ đang bị thuyết phục để mua một sản phẩm hoặc dịch vụ. “Người tiêu dùng hiểu rằng chúng tôi đã trả tiền để truyền tải thông điệp bán hàng đến với họ, và thật không may, người tiêu dùng thường xem thông điệp bán hàng rất thận trọng”, Paul Flowers, Chủ tịch tập đoàn Flowers & Partners cho biết. “Rốt cuộc, họ biết rằng chúng tôi đang cố bán hàng.”

– PR: Khi ai đó đọc bài báo do bên thứ ba viết về sản phẩm của bạn hoặc xem phạm vi phủ sóng của sự kiện trên TV thì họ sẽ thấy thứ mà bạn không phải trả bằng tiền quảng cáo và xem nó một cách rất khác với quảng cáo trả tiền.

Flowers cho biết: “Chúng tôi có thể tạo ra sự tín nhiệm lớn đối với các sản phẩm và dịch vụ của khách hàng khi chúng tôi nhờ sự chứng thực của bên thứ ba thông qua các phương tiện truyền thông độc lập”.

  1. Sáng tạo và trải nghiệm

– Quảng cáo: Trong quảng cáo, bạn sẽ thể hiện sự sáng tạo của mình thông qua việc tạo ra các chiến dịch quảng cáo và vật dụng hỗ trợ quảng cáo mới.

– PR: trong quan hệ công chúng, bạn phải có khả năng sàng lọc thông tin và tạo ra tin “hot” thông qua tin tức đó. Bạn thể hiện sự sáng tạo của mình, trong phạm vi, bằng cách bạn tìm kiếm tin tức mới để phát hành cho giới truyền thông.

  1. “Trong nhà” và “ngoài phố”

– Quảng cáo: Nếu bạn đang làm việc tại công ty quảng cáo, thông tin liên hệ chính của bạn là đồng nghiệp và khách hàng của công ty. Nếu bạn mua và lên kế hoạch quảng cáo thay cho khách hàng thì bạn cũng sẽ làm việc với những người làm kinh doanh quảng cáo trên báo.

– PR: Bạn sẽ giao tiếp với giới truyền thông và phát triển mối quan hệ với họ. Thông tin liên lạc của bạn không giới hạn trong giao tiếp nội bộ. Bạn sẽ liên lạc thường xuyên với các tòa soạn báo in và đài truyền hình.

  1. Khán giả mục tiêu và nhà báo tiềm năng

– Quảng cáo: Bạn đang tìm kiếm khán giả mục tiêu và quảng cáo phù hợp với họ. Giống như việc bạn không thể quảng cáo chương trình cho phụ nữ trên tạp chí thể thao dành cho nam giới.

– PR: Bạn phải có cái nhìn và các biên tập viên phù hợp giúp họ sử dụng thông tin để viết bài, để gửi thông cáo báo chí hoặc thuyết phục họ tham dự sự kiện của bạn.

  1. Giới hạn và không giới hạn mối quan hệ

– Quảng cáo: Một vài người trong ngành như chuyên viên account (người nhân yêu cầu từ khách hàng) phải có mối quan hệ với khách hàng. Một vài người khác như copywriter hoặc thiết kế đồ họa thì không cần phải gặp khách hàng.

– PR: Trong quan hệ công chúng, bạn phải đối diện với cả giới truyền thông. Người làm PR không phải lúc nào cũng cần tin tốt.

Nếu xảy ra tai nạn tại công ty, bạn phải đưa ra thông báo hoặc phỏng vấn bằng camera với các nhà báo. Bạn có thể đại diện cho công ty như người phát ngôn tại sự kiện. Hoặc bạn có thể làm quan hệ cộng đồng để cho công chúng thấy công ty của bạn đang tích cực tham gia vào những hoạt động có ích, cam kết với thành phố và người dân.

  1. Sự kiện đặc biệt

– Quảng cáo: Nếu công ty của bạn tài trợ cho một sự kiện, bạn sẽ không cần làm quảng cáo giống như tự khen sản phẩm của công ry mình. Đây là việc mà phòng PR của bạn phải làm.

– PR: Nếu bạn đang tài trợ một sự kiện, bạn có thể gửi thông cáo báo chí và giới truyền thông có thể quảng bá cho nó. Họ có thể đăng tin hoặc tham gia sự kiện.

  1. Phong cách viết bài

– Quảng cáo: Hãy mua sản phẩm này! Hành động ngay! Gọi điện ngay hôm nay! Đây là tất cả những gì bạn đề cập trong quảng cáo. Bạn muốn sử dụng các từ gây chú ý để khuyến khích mọi người mua sản phẩm của mình.

– PR: Bạn viết bài một cách nghiêm túc với định dạng rõ ràng. Bất kỳ thông điệp thương mại trắng trợn nào trong bài viết đều bị giới truyền thông bỏ qua.

 

 

Posted in PR

Các loại hình quan hệ công chúng

Quan hệ công chúng (PR) là phương thức quản lý luồng thông tin giữa cá nhân hoặc tổ chức với công chúng. Quan hệ công chúng tạo cơ hội tổ chức hoặc cá nhân giao tiếp với công chúng mục tiêu thông qua việc sử dụng các chủ đề cộng đồng đang quan tâm và các mẩu tin mà không cần thanh toán trực tiếp. Mục đích của phòng quan hệ công chúng trong một công ty thường là thuyết phục công chúng, nhà đầu tư, đối tác, nhân viên và các bên liên quan khác duy trì hình ảnh nhất định liên quan đến chính công ty đó, lãnh đạo, sản phẩm hay các quyết định mang tính chính trị. Các hoạt động chung bao gồm phát biểu tại họp báo, giành các giải thưởng trong ngành, làm việc với báo chí, và truyền thông cho nhân viên.

Quan hệ với truyền thông bao gồm những việc liên quan đến giao tiếp với các phương tiện truyền thông khác nhau nhằm mục đích thông tin cho công chúng về nhiệm vụ, chính sách và phương thức thực hiện của tổ chức một cách tích cực, nhất quán và đáng tin cậy. Thông thường, điều này có nghĩa là phối hợp trực tiếp với những người có trách nhiệm làm tin tức và các tính năng trên các phương tiện thông tin đại chúng. Mục tiêu của quan hệ truyền thông là tối đa hóa độ bao phủ thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng mà không phải thanh toán trực tiếp thông qua quảng cáo.

Nhiều người sử dụng thuật ngữ “quan hệ công chúng” và “quan hệ truyền thông” để thay thế cho nhau; Tuy nhiên, làm như vậy là không chính xác. “Quan hệ truyền thông” là mối quan hệ mà một công ty hoặc tổ chức xây dựng, phát triển với nhà báo, trong khi “quan hệ công chúng” là việc mở rộng mối quan hệ đó ra ngoài giới truyền thông để đến với công chúng.

Quản trị quan hệ khách hàng (CMR) là mô hình được triển khai rộng rãi nhằm quản lý sự tương tác của công ty với người tiêu dùng, khách hàng và khách hàng tiềm năng. Phương thức này bao gồm việc sử dụng công nghệ để tổ chức, tự động hóa và đồng bộ hóa quy trình kinh doanh – không những cho hoạt động bán hàng, mà còn cho marketing, dịch vụ khách hàng và hỗ trợ kỹ thuật. Mục tiêu chung là tìm kiếm, thu hút và giành được khách hàng mới, nuôi dưỡng và duy trì những khách hàng mà công ty đã có, thuyết phục khách hàng cũ trở lại, giảm chi phí marketing và dịch vụ khách hàng. Quản trị quan hệ khách hàng định ra chiến lược kinh doanh toàn công ty bao gồm những phòng ban giao tiếp với khách hàng cũng như các phòng ban khác. Đo lường và đánh giá mối quan hệ với khách hàng cực kì quan trọng trong việc thực hiện chiến lược này.

Hệ thống quản lý quan hệ nhân viên (ERM) có thể được định nghĩa là các hệ thống thông tin hỗ trợ mối quan hệ giữa công ty với nhân viên của công ty đó. Có rấy nhiều thành phần của trong hệ thống quản lý quan hệ nhân viên, và giống như trong quản lý quan hệ khách hàng, mục tiêu của việc hỗ trợ nhân viên trong toàn bộ vòng đời hoạt động của họ trong công ty.

Trong vài năm qua, quản lý quan hệ nhân viên tập trung vào việc tự thiết lập một thăm dò ý kiến; mục đích là để tránh nguy cơ nhân viên từ chối bất kỳ giải pháp công nghệ thông tin nào vì việc kết hợp thông tin từ nhiều bảng tính và cơ sở dữ liệu là rất dài dòng và phải làm thủ công. Thành thật mà nói, việc quản lý tốt quan hệ với nhân viên rất có giá trị đối với công ty và là động lực thúc đẩy hiệu quả hoạt động cả về làm việc độc lập và theo nhóm.

Hệ thống quản lý quan hệ nhân viên là một trong những công cụ SW mà công ty cần có đối với việc phát triển Quản lý Nguồn Nhân lực hướng tới cách tiếp cận Nhân viên với mục đích chính là tạo ra môi trường làm việc kích thích sự tham gia của nhân viên và người quản lý.